LTS: Trong thời gian vừa qua đã có nhiều ý kiến từ phía các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, nhà báo và cả phía bạn đọc xung quanh vấn đề tác phẩm văn học viết về người lính hôm nay. Để giúp thêm bạn đọc có thêm thông tin, Văn hoá văn nghệ Biên phòng xin đăng ý kiến của nhà văn Sương Nguyệt Minh về vấn đề này. 1. Những tác phẩm tiêu biểu về chiến tranh cách mạng người lính. Tôi đồng cảm với nhà thơ Trần Anh Thái và xin nhấn mạnh thêm, tôi đánh giá rất cao nhà thơ Hữu Thỉnh, thơ thế sự, thơ nhân tình thế thái của ông rất hay mà thơ viết về chiến tranh cách mạng và người lính cũng rất thành công. Tập Trường ca “Đường đi tới thành phố”, có nhiều câu hay, xúc động: Hai mươi năm áo gấm đi đêm Chị màu mỡ mà tôi chẳng biết. Hay: Một mình một mâm cơm Ngồi bên nào cũng lệch Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền. Người đàn bà chờ chồng thân phận quá. Sự chịu đựng, hy sinh này so với người ở mặt trận thì ai hơn ai? Hoặc “Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi” của nhà văn Nam Hà cùng với tuỳ bút “Đường chúng ta đi” của Nguyễn Trung Thành là hùng ca hào sáng của thời chiến tranh, như những lời hiệu triệu thanh niên lên đường ra trận bằng thơ văn. Tôi và một số bạn bè cùng thời đi đánh giặc, một phần cùng do những tác phẩm ấy giục giã. Văn xuôi viết về chiến tranh cách mạng và người lính có nhiều tác phẩm thành công. Chẳng hạn thời đang chiến tranh thì có: “Hòn đất” của Anh Đức. “Cánh đồng hoang” của Nguyễn Quang Sáng. “Mẫn và tôi” của Phan Tứ. “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu. Sau chiến tranh chống Mỹ, các tác giả văn xuôi vẫn tiếp tục cày cấy trên cánh đồng chiến tranh cách mạng và người lính. Những chưa phải đã gặt hái được ngay. Tôi còn nhớ những nam 1976, 1977 một loạt các truyện ngắn viết về người lính vừa thoát khỏi chiến tranh, những người lính trận mạc đầy chiến công, người lấp lánh huân huy chương, nhưng cũng đầy thương tích về làng toàn lấy lại vợ người đã hy sinh. Đọc một chuyện, hai chuyện, ba chuyện thấy người lính nhân bản, cao thượng quá và cảm động, cảm phục người lính chứ đọc đến năm chuyện, mười chuyện như thế thì thấy thương người lính quá. Tại sao người lính cứ phải hy sinh đến cả chuyện như thế? Bây giờ ngẫm lại tôi mới thấy viết giả, sống xít quá, thực ra đó cũng chỉ là chuyện người tốt việc tốt. Phải đến thập niên 80 của thế kỷ trước thì mùa màng mới bội thu. Tôi thích các tác phẩm: “Đất trắng” của Nguyễn Trọng Oánh. “Tư thiên” của Xuân Thiều. “Chiến tranh không phải trò đùa” của Khuất Quang Thụy. “Chim én bay” của Nguyễn Trí Huân. Gần đây là “Lạc rừng” của Trung Trung Đỉnh. “Đổ bóng xuống mặt trời” của Trần Anh Thái. Truyện ngắn ở mảng đề tài này có thể kể đến: “Đêm nguyệt thực” của Trung Trung Đỉnh; “Có một đêm như thế” của Phạm Thị Minh Thư; “Chiều vô danh” của Hoàng Dân; “Tiếng vạc sành” của Phạm Trung Khâu. Đặc biệt tôi thích “Làng xa” và “Nhịp điệu khải hoàn” của Đỗ Văn Nhâm. Tôi có nhận xét thế này. Sau chiến tranh, các nhà văn viết về chiến tranh cách mạng và người lính hay hơn lúc đang chiến tranh. Có lẽ do nhịp sống chiến trường quá khẩn trương, gấp gáp, các nhà văn chưa có đủ thời gian cần thiết để kiến tạo tác phẩm tâm đắc của mình chăng? Có thể là sau chiến tranh, các nhà văn có độ lùi cần thiết, có sự chín muồi cần thiết, có cách cảm, cách nghĩ mới trước một đề tài cũ nhưng vẫn còn đang nóng hôi hổi chăng? 2. Điểm chung của hình tượng người lính trong chiến tranh là: - Cái Tôi nằm trong Ta (tức là cái chung, cái thời đại). Nhiều khi cái Ta bao trùm, lấn át cái Tôi trong tác phẩm. Có nghĩa là con người công dân nổi trội, con người cá nhân chìm xuống. Hoặc là hơn cái Tôi và cái Ta đan xen, quyện lẫn hài hoà với nhau. Đây là đặc điểm lớn nhất. - Chỉ đến nỗi buồn chiến tranh thì cái Tôi mới rõ nét hơn. 3. Bước ra khỏi chiến tranh, người lính trở về với đời thường, họ đầy bỡ ngõ, lạ lẫm, đôi khi lạc lõng, cô đơn là có thật. Ta có thể tìm thấy; Ông tướng Thuấn trong “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp; Trung tá Đông trong “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng; Cô thanh niên xung phong “Người sót lại của rừng cười” của Võ Thị Hảo. Có người nói Trung úy Sài trong “Thời xa vắng” của Lê Lựu cũng thuộc tuýp người như vậy. Tôi lại không nghĩ thế. Sài là một người có một thời sống không bằng cái của mình mà sống bằng cái của người khác. Vì vậy, Sài không đi bộ đội và phục viên về với đời thường thì Sài vẫn ngu ngơ, xa lạ. Một người như Sài chỉ cần đổi môi trường sống, ví dụ từ nông thôn ra thành thị là có chuyện; chỉ cần thay đổi những người sống quanh Sài là có chuyện - chuyện Sài sống thân phận người nô lệ. 4. Phần lớn tác phẩm viết về chiến tranh cách mạng và người lính sau này thì hồi ức nổi trội, rõ nét, phần hiện tại rất mờ nhạt. Đúng như thế! Đây là chủ định của nhà văn trong một tác phẩm. Và họ thường thành công. Một số tác giả viết về người lính trở về đời thường làm giám đốc, doanh nhân thì bao giờ cũng hồi tưởng lại thời trận mạc và những trang viết đó rất thành công, đầy xúc động vì nó là máu thịt, mồ hôi, nước mắt của người lính trong cuộc. Không hiểu biết hoặc hiểu biết rất ít mà cứ lao vào viết thì sẽ thất bại. Một nhà văn chuyên viết về chiến tranh nay viết về cuộc sống thường nhật, về người lính cởi quân phục làm doanh nhân, doanh nghiệp thời kinh tế thị trường thì cần phải có thời gian. Đó là thời gian cần thiết để nhà văn am hiểu nhân tình thế thái trên thương trường, am hiểu con người thật ngoài đời để dựng chân dung trong văn học. 5. Người lính thời bình trong văn học còn thiếu vắng mờ nhạt. Tôi gọi người lính hôm nay. Quả thật trong văn học, người lính hôm nay chưa rõ hình thù. Nói trắng ra là quá yếu. Tạp trí Văn nghệ quân đội là diễn đàn văn nghệ của lực lượng vũ trang nhân dân, đối tượng phục vụ trước hết phải là người lính, họ đọc tác phẩm phải thấy bóng dáng mình trong đó. Ban Biên tập chúng tôi rất chú ý đến vấn đề này. Cứ vài tháng không có tác phẩm nào viết về người lính hôm nay là lại lo. Nói thật với các anh, tôi làm biên tập ở đây, vớ được truyện ngắn nào viết về lính hôm nay là mắt sáng lên. Truyện viết trung bình là đã đưa vào in, nhưng thường là hiếm, thiếu triền miên. Những tác phẩm đã in cũng không có tác phẩm hay, đáng để nhớ. 6. Là người lính cầm bút, viết về chính mình, về đồng đội bao giờ cũng thuận lợi hơn. Nếu văn ngang tài nhau, nhà văn trong quân đội sẽ có ưu thế hơn nhà văn bên ngoài vì không phải đi thực tế. Những năm tháng trận mạc, những năm tháng đóng mình trong trại lính của tôi, của đồng đội chính là hiện thực mà các nhà văn bên ngoài chưa có, hoặc không có được. Ví dụ: Chỉ việc sử dụng thuật ngữ quân sự cũng đòi hỏi thời gian cần thiết tìm hiểu. Ví dụ: Ngôn ngữ lính không hề đơn giản, phải có thời gian dài mới hiểu được... Những năm tháng quân ngũ đã là cuộc đi thực tế sáng tác quá dài, đó là thuận lợi, cộng thêm văn tài nữa sẽ là một cái gì đó không hay lắm thì cũng đọc được. 7. So với thời chiến, ngày nay có điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều. Nhưng lại chưa có tác phẩm hay về người lính thời bình. Tôi cho rằng: a) Có nhiều nhà văn thành danh không muốn viết về người lính hôm nay. Họ đang còn tâm đắc với đề tài chiến tranh, đang sống hết mình với đề tài này. b) Nhà văn nào muốn viết về đề tài này thì lại chưa tiếp cận được đời sống người lính. Trong thế chiến thứ hai, ở Liên Xô có một đội ngũ nhà văn trung uý. Họ viết văn ở ngay chiến hào. Trong chiến tranh chống Mỹ, nước ta có một đội ngũ nhà văn binh nhì. Hầu như sư đoàn nào cũng có một, hai nhà văn binh nhì. Lúc ấy, tất cả nhân tài vật lực đều tập trung cho quân đội, cho mục tiêu cuối cùng là giải phóng miền Nam. Có thời kỳ, sinh viên các trường đại học động viên vào bộ đội gần hết. Những công dân ưu tú từ 17, 18 tuổi đều tập trung vào quân đội. Nhà văn cũng là người cầm súng trực tiếp ăn, ngủ, nghỉ, ra chiến hào, nghĩ cùng, cảm cùng, vui buồn cùng, lo lắng, sợ hãi vô cùng, vinh quang cùng người lính; tức là sống thực cuộc sống người lính. Bây giờ thời thế khác, tâm thế cũng khác. Thanh niên nhập ngũ vào bộ đội văn hoá chung thì cao hơn ngày trước, nhưng các thanh niên ưu tú chưa chắc đã chịu vào quân đội. Anh nào giỏi văn, cảm văn tốt thì vào khoa Văn của Đại học Sư phạm hoặc Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn. Anh nào viết lách được chút ít thì vào quân đội, hai năm chưa kịp phát tiết thì đã ra quân. Trong mong vào các nhà văn quân đội thì tuổi đã nhiều, toàn thượng tá, đại tá, đáng bậc cha chú lính trẻ. Bây giờ muốn viết được một chuyện ngắn ra hồn thì phải tạm biệt nhà cao tầng, phòng vệ sinh thơm tho, tắm nóng lạnh, điều hoà nhiệt độ ở thành phố, khoác ba lô về ăn cơm xuất, ngủ giường cá nhân, hành quân, chơi, nghỉ dầm dề cùng lính trẻ. Có vậy mới hiểu biết họ đang sống thế nào, họ nghĩ, họ nói năng đi đứng, vui buồn ra sao... Hỏi ai là nhà văn có thể làm được như vậy? Hay nếu có đi chỉ đến cấp sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn là cùng, đến biên phòng thì đến với cán bộ đồn thôi, chứ mấy ai xuống ăn uống, ngủ nghỉ với lính. Tôi đã đọc một số tác phẩm viết về người lính hôm nay, mới đầu đọc cũng thấy được được, sau ngẫm ra thì mới thấy hình như đấy là lính trẻ của ba mươi năm về trước chứ không phải lính trẻ hôm nay. Tôi dám nói rằng: Viết về người lính hôm nay đang là thách đố các nhà văn.
B.B.T
|
Địa chỉ: 40A Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Điện thoại : (04) 39364407 Fax: (04) 39364408 |
| Tổng biên tập: Nguyễn Hòa Văn |
Trăn trở vùng biên [10:38]
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
|
|
|
||||||||||||||
|
Bản quyền thuộc về BÁO BIÊN PHÒNG, giấy phép số 183/GP-BC cấp ngày 10-5-2007 Báo Biên phòng - Cơ quan của Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Biên phòng Địa chỉ : 40A Hàng Bài - Hà Nội, điện thoại : (04) 39364407 Fax: (04) 39364408 e-mail: banthukybaobp@gmail.com |