Cửa khẩu Mộc Bài mỗi thời một khó khăn riêng

* Chuyện hơn mười năm về trước.

Trưa. Nắng. Nóng. Tây Ninh mùa khô, lúc nào cũng nóng như thế. Đồn Biên phòng Mộc Bài chỉ có một cái sân trước. Cái sân đông nghẹt người. Tất cả các chiến sĩ biên phòng được điều động ra hết để giải quyết một công việc duy nhất: Giải tỏa hàng lậu. Trong sân đồn, đủ cả đàn ông, đàn bà, con nít, thanh niên…

Hàng lậu chật một sân. Toàn là thuốc lá ngoại cùng mấy chiếc xe tải, xe du lịch và xe khách. Có biết bao nhiêu hoàn cảnh để biện minh cho việc mang thuốc lá ngoại từ bên phía Cam-pu-chia sang Việt Nam. Nhà nghèo quá đi cõng thuốc kiếm ít tiền công! Không có việc làm nên phải kiếm việc từ mang vác hàng lậu! Tiện xe đi công chuyện mang chút ít thuốc lá kiếm tiền xăng! Em mới đi buôn thuốc lá lần đầu mong các anh thông cảm! Ấy là những người năn nỉ. Không thiếu gì mặt gân guốc đấu lý với anh em biên phòng. Có cả những lời đe dọa và văng tục.

Đại úy Nguyễn Minh Đoàn, Đồn phó Đồn biên phòng Mộc Bài theo sát đoàn công tác chúng tôi. Một chiếc máy quay phim chĩa vào những đống hàng lậu bấm máy. Có một tiếng quát át tất cả những tiếng ồn ào:

- Đ má. Quay phim hả? Giật lấy máy của nó bà con ơi. Đập mẹ nó máy đi. Quay, quay cái con…

Nguyễn Minh Đoàn lao đến chắn ngay trước mặt anh quay phim, tay giật vai cái người vừa la lối om xòm kia và quát vào mặt hắn:

- Muốn giật máy hả? Muốn đập máy hả? Hỏi ý kiến tôi nè…

Anh chàng kia biết gặp phải người không vừa, lặng lẽ lui về sau. Trên tay anh ta là một chiếc nạng gỗ. Đoàn nói với tôi:

- Minh "đầu bò" đó anh. Chẳng thương binh thương biếc gì đâu. Hắn giả đò đó.

- Hắn là trùm buôn lậu ở đây hả?

- Không. Hắn không buôn lậu. Hắn giả làm thương binh chuyện việc bảo vệ hàng cho bọn buôn lậu ở cửa khẩu này. Ai không biết, hắn có thể vác nạng mà phang người ta để cứu hàng. Hắn có một bầy đàn em. Toàn thương binh giả không. Hỏi thì bị thương ở chiến trường Cam-pu-chia. Bị thương quái gì đâu.

Thằng nào cũng có một miếng giấy đỏ, giống như thẻ thương binh. Hễ ai đến giải quyết chuyện hàng lậu là chúng giơ vào mặt người ta mà la lên: Chiến tranh què cụt không sống nổi mới đi buôn, sao mấy người ác quá trời vậy. Chỉ tụi tui và mấy anh bên công an là biết chúng không phải là thương binh. Nên gặp tụi tui là chúng ngán. Không có tụi tui, cái máy quay phim kia thành cám rồi.

Đã có một lần tôi lên tận bờ đê biên giới, nhập vào đoàn người nườm nượp đi mang vác thuốc lá lậu. Không thể tưởng tượng nổi. Dòng người như bầy kiến tha mồi, nối đuôi nhau đi theo các bờ ruộng. Trên lưng ai cũng một cái bòng nặng lặc lè. Cái bòng cao vượt cả đầu người, trong đó chất toàn thuốc lá Hê rô, 555, Carave A, Dunhil.

Toàn thuốc lá là thuốc lá. Ngay trên bờ đê, cách đường biên chừng vài trăm mét là những cái lều cất tạm. Trong đó cũng chứa toàn thuốc lá. Có lẽ cả thế giới này, không ở đâu có cái chợ chỉ bán thuốc lá lớn đến như vậy. Tôi đã chứng kiến cảnh anh em biên phòng bắt được một người mang hàng lậu. Anh nhóm trưởng hôm đó đã bùi ngùi nói với tôi:

Chẳng giỏi giang gì đâu. Đó là một thanh niên mù hai mắt và cụt một tay. Đi vác hàng lậu phải có người dắt. Khi bọn tôi vây bắt, anh ta không chạy nổi nên bị bắt vậy thôi.

Nhìn anh thanh niên mù hôm ấy xạc từng gói thuốc ra khỏi những cọng dây thun, tôi xót xa quá. Người dẫn đường cho anh là một ông già tuổi chừng hơn sáu mươi. Sương sớm làm ướt những chiếc áo bà ba đen trên người ông. Chiếc quần xà lỏn cũng ướt gần hết. Tôi hỏi ông:

- Chú cũng người Bến Cầu này hả?

- Dạ phải.

- Sao chú lại…

- Tôi biết chú hỏi gì rồi. Không. Tôi đâu có đi buôn lậu. Vốn liếng đâu mà đi buôn. Mà tôi cũng không có gan mà đi mang hàng lậu. Già như tôi mà bị bắt bớ, xét hỏi quê lắm. Nhưng thằng nhỏ này nó nhờ. Chú coi, mắt mũi nó vầy nè. Làm sao đi lại trên những con đường bờ ruộng kia. Nó kêu tôi dắt nó đi rồi nó chia tiền công cho tôi. Hôm đó tôi còn bắt gặp một em bé chừng tám, chín tuổi. Quanh người em, có lẽ do người lớn đã cột gần chục cây thuốc lá. Chỉ còn thấy một gương mặt. Ngây thơ và tội nghiệp. Em bé không tránh ống kính máy quay phim. Một bàn tay bé bé, xinh xinh đưa lên vuốt những giọt mồ hôi trên má. Mái tóc em xơ rơ, xác rác và đỏ quạch vì nắng…

Tôi lân la làm quen với mấy người đang ngồi đánh bài. Một tay vừa quất cây bài xuống, người đàn ông có bộ tóc xù, hoe hoe vàng như rễ tre vừa trả lời câu hỏi của tôi.

- Thì tụi này cũng đi làm thuê thôi chớ có hơn gì họ. Nhưng được cái lưng không đau, gối không mỏi. Vài thẻ tre thôi, đủ kiểm soát được hàng rồi.

Đúng là mỗi người có một mớ thẻ tre nho nhỏ thực. Những chúng khác nhau. Thẻ thì nhọn một đầu; thẻ thì nhọn hai đầu; thẻ có dấu mực ở đầu; thẻ có dấu ở cuối. Tự tôi phải hiểu ra, mỗi thẻ tre là một chủ khác nhau. Mỗi người vác hàng qua được giao một cái thẻ tre. Người mang thẻ ấy phải biết mình sẽ giao hàng ở đâu, cho ai.

Những khuôn mặt nám đen và đẫm mồ hôi gồng lên vì bòng hàng sau lưng. Bên cạnh những người khỏe khoắn ấy là những người đàn bà và con trẻ. Thuốc được cột trong người. Những cọng dây thun dài thòng quấn quanh những cây thuốc, bó chặt vào thân thể con người. Khi họ bước đi, tất cả ngây ra, giống như những khúc cây đang di chuyển.

Ngày ấy, trong dân gian truyền tụng rằng, ở Bến Cầu có một đoàn người Rô-bốt. Không ít đâu. Chỉ với những cọng dây htun ấy có thể cột vào mỗi người cả chục ngàn là cùng. Một chục ngàn mà cả đi và về phải lội bộ gần hai chục cây số. Có người vừa đi vừa chạy. Có người guồng chân gấp gáp. Ngoài đường dòng người cứ cuồn cuộn tôi. Có mấy chiếc xe honda 67 chuyên chở hàng, tháo ống bô, để tiếng nổ váng trời lao vun vút trên đường với tốc độ đến chóng mặt.

Trở lại chỗ Đại úy Nguyễn Minh Đoàn. Anh đang kể chuyện về những lần chạm mặt với Minh "đầu bò".

- Có lần tụi chúng thách tui đó anh. Ngon mày thử qua cầu Gò Dầu coi.

- Ngán không? - Tôi hỏi.

- Ngán gì mà ngán. Tôi đi hoài chớ gì. Mình là người thi hành công việc. Nó là bọn làm bậy. Nó không ngán mình thì thôi, mắc gì mình ngán tụi nó. Nhưng có điều này nghĩ cũng buồn lắm anh: Năm nào chúng tôi cũng được tuyên dương về thành tích chống buôn lậu. Giá như đừng có buôn lậu để chống và chúng tôi không được nhận những lời tuyên dương thì thích hơn nhiều.

Phải đến tối, tất cả những sự lộn xộn trên sân Đồn biên phòng Mộc Bài mới chấm dứt. Bữa cơm chiều ấy thấy ai cũng uể oải không muốn nhai. Mệt mỏi thực. Ngay cả tôi cũng bã người vì phải theo sát cuộc giải quyết hàng lậu hôm ấy. Ngẫm mong ước của Đại úy Nguyễn Minh Đoàn cũng phải, cũng chính đáng. Giá mà đừng có buôn lậu.

* Cuộc chiến bưng Đìa Xù

Ngày xưa, ở huyện Bến Cầu (Tây Ninh) có một bưng hoang chẳng ai đặt tên. Một hôm có người mắc bệnh phong xù, nằm chết tội nghiệp cạnh bờ đìa trong bưng, từ đó mà tên là bưng Đìa Xù. Bưng Đìa Xù có tự bao giờ, chẳng ai biết. Đã mấy đời bưng Đìa Xù mùa mưa chỉ lênh láng nước, mùa khô thì cạn kiệt, đất đai nứt nẻ, chỉ còn vũng nước chỉ đủ để trâu tắm.

Cả hai mùa mưa nắng, trên bưng chỉ thấp thoáng ít người bắt cá, mò cua, hái lá chàm và cắt bàng về đương đệm. Bởi thế mà người Bến Cầu truyền tụng bao đời câu hát:

Lấy chồng Bãi Gõ, nước mắt nhỏ hai hàng.

Mâm cơm dọn để đó, giã chín neo bàng mới được ăn.

Vào một ngày đầu năm 1993, bưng hoang Đìa Xù bỗng bừng tỉnh giấc. Cuộc tấn công vào bưng hoang bắt đầu.

Cái lo bây giờ không còn là sự hoang dã của bưng hoang nữa, mà lại là cái lo của sự làm ăn. Vốn cho đợt đầu cải tạo bưng hoang là hơn hai tỉ đồng. Ở đâu ra? Với cơ chế trước đây, con số này thực khổng lồ. Và với cách làm hiện nay cũng là bài toán khó tìm đáp số với những ai nằm đó chờ thời. Những chuyến đi của các đồng chí lãnh đạo huyện, những cuộc tiếp xúc với nhiều thành phần kinh tế. Những lời chào mời thật thiết tha về tương lai của một vùng đất đã cuốn hút về Bến Cầu những bạn chân thành. Vốn không chỉ đủ để cho việc cải tạo đồng hoang, mà còn đủ để hoạch định vùng dân cư mới ngay trên đất này với hơn 1.000 hộ dân và đủ để cho ra đời một thị tứ mà đến nay Bến Cầu chưa có.

Bến Cầu không đơn độc trong cuộc tấn công vào bưng hoang Đìa Xù. Bên cạnh họ đã có những người bạn chí cốt. Và Bến Cầu còn có dân - những người dân kiên trung trong chiến đấu và cần cù trong lao động khi việc khai phá bưng hoàng bắt đầu thì huyện Bến Cầu cũng bắt đầu nhận được đơn của bà con nông dân xin được cấp đất ở đây để cày cấy.

Hơn 400 lá đơn được gởi về hầu như cùng một lúc. Nhưng hãy khoan nói đến những lá đơn đầy tha thiết này mà kể ngay về một hiện tượng mới phát sinh ngay trên đất bưng hoang Đìa Xù. Có một vài hộ trước đây khoanh khoanh một vài phần đất trên bưng hoang nhận là của mình. Bao nhiêu năm làm không có ăn họ bỏ hoang đó. Nay bỗng thấy tương lai của đất, họ nhảy ra tranh chấp.

Đơn kiện bay đi tứ tung. Hiện tượng này không làm cho huyện lo, bởi mọi chính sách quá rõ ràng. Trái lại, những người lãnh đạo huyện lại thấy mừng. Có nghĩa là việc làm hôm nay đã có ý nghĩa thiết thực. Đã khơi trúng vào sự mong muốn của người dân. Còn đối với những người tranh chấp chỉ xin hỏi: Ai đầu tư vào đây, ai khai phá đất này để hôm nay mấy người tranh chấp?

Và hơn 400 lá đơn xin cấp đất của nhân dân trong huyện - lãnh đạo huyện Bến Cầu cũng không lo, bởi có cấp cho mỗi đơn 10.000 mét vuông đất thì cũng chỉ chiếm 1/5 diện tích đất bưng hoang Đìa Xù, và cũng chính từ họ, từ những bàn tay lao động cần cù sẽ làm cho bưng hoang thành sầm uất. Tuy nhiên không phải ngay một lúc. Những hộ thực sự khó khăn được ưu tiên cấp trước. Nay mai, còn nghĩ cả đến việc huy động người có vốn đến đầu tư sản xuất ở đây. Vậy nên, qua hai đợt xét, mới cấp đất cho gần 100 hộ, 60 ở xã Lợi Thuận, 30 ở xã An Thạnh, tất cả đều là những hộ cái nghèo đeo đẳng, cái đói luôn cận kề.

Bao năm rồi đợi chờ ngày hôm nay, chẳng ai khóc, cũng không mấy ai cười trong giờ phút này. Được xã mời tới nơi nhận đất, vậy mà có người vẫn không tin. Vẫn chăm chăm chờ đợi người ta đọc đúng cái tên cha sinh mẹ đẻ của mình, chờ đến lúc chăng dây đóng cọc chỉ đúng phần đất của mình họ mới tin đó là sự thực. Lúc đó mới thực sự vui, thực sự thiêng liêng nhất.

Đồng chí Chủ tịch UBND huyện Bến Cầu Phan Văn Dẫn không thể từ chối ly rượu cúng đất của người nông dân. Anh vui với bà con, nhưng lại lo thêm cho bà con. Đất bưng hoang đâu phải một ngày mà làm ăn được. Vốn liếng của những người nhận đất hôm nay hầu như không có. Lại bắt đầu một công việc mới, cùng với xã hội tìm cách tương trợ bà con.

Có đất chưa hẳn đã xóa đi được nỗi gian truân của người hôm nay nhận đất. Xem như cuộc chiến đấu xóa đói nghèo mới chỉ bắt đấu. Nhưng dẫu sao thì cũng đã có một cái nền vững chắc. Có đất cho dân nghèo. Xin bà con không chỉ cầu trời, khấn đất, mà hãy tin vào sức mình để hướng tới ngày mai. tay nâng ly rượu mừng, anh muốn nói rất nhiều, nhưng rồi chỉ gói gọn được trong câu: Mừng bà con có đất, mong bà con có những vụ lúa bội thu trên mảnh đất này.

Những nhát cuốc đầu tiên đã bổ xuống vùng đất hoang. Những lưỡi xẻng đầu tiên đã xắn xuống đất hoang. Và cuộc tấn công bằng nhiều phương tiện vào bưng Đìa Xù vẫn còn tiếp tục. Ở đâu đó khi bắt tay vào bất cứ công việc gì cũng còn phải đắn đo, còn phải tranh luận, còn bán tín bán nghi, chớ ở bưng hoang Đìa Xù này, không hề có một lời bàn ra. Tất cả vào cuộc bằng một niềm mơ ước ngày mai bưng hoang Đìa Xù trở thành vựa lúa của huyện Bến Cầu.

Dáng vóc Mộc Bài trong tương lai

Tôi viết những dòng trên đây vào năm 1993. Nay đã mười năm trôi qua. Thú thực, ngày viết những dòng này, tôi vẫn còn mơ hồ về một vùng đất ở giáp biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia này. Chiếc tàu hút bùn ngày ấy đến giờ vẫn hằn trong đầu tôi với anh công nhân lái máy cởi trần trùng trục, người bóng nhẫy mồ hôi. Dòng nước có chứa bùn xình ồng ộc tuôn ra đổ tràn vào những ngóc ngách trũng của một vùng mênh mông cỏ lác và bàng.

Nhưng hôm nay trở lại tất cả đã khác xưa. Vùng đầm lấy Đìa Xù nay đã biến mất. Thay vào đó là những lô đất dành cho những khu dân cư mới. Nghe đâu huyện Bến Cầu đã có đấu thầu khoảng hơn 20 triệu đồng một lô chừng hơn 100 mét vuông. Nhưng bây giờ cái giá ấy đã quá lạc hậu. Mỗi lô đất giá đã gấp năm sáu lần giá khởi điểm kia. Đến ngay ngã ba đường đi ba xã cánh Tây Trảng Bàng đã có thể thấy những ngôi nhà cao tầng sừng sững mọc lên. Con đường nhỏ hẹp ngày trước nay đã mở rộng ra thênh thang. Bây giờ người ta quen gọi đường này là đường Xuyên Á. Chỉ những nhà quản lý giao thông mới nhớ đó là quốc lộ 22A.

Từ người dân thường đến cán bộ, từ những người già đến những đứa con trẻ đã nhanh chóng quen với cái tên đường Xuyên á. Ngay tại cửa khẩu Mộc Bài, nơi ngày trước có một cái cổng lớn, một dãy nhà để làm nơi kiểm soát tổng hợp, thêm một vài ngôi nhà của mấy cơ quan có liên quan đến biên giới, còn lại là những nhà dân lụp xụp tranh tre và những cánh đồng với những cây lúa còi cọc.

Còn hôm nay, khu cửa khẩu Mộc Bài đang ngổn ngang một công trường. Nhà kiểm tra liên hợp đang bị đập phá. Nơi đó một trạm liên hợp khác sẽ được xây mới cho xứng đáng với cửa khẩu quốc tế. Dãy nhà làm việc của công an, của những trạm đón tiếp đã được dỡ bỏ, thay vào đó là một dãy nhà làm việc cấu trúc hoàn toàn mới, sang trọng.

Một dãy ki-ốt dành làm nơi buôn bán giao dịch ở cửa khẩu đã xây xong. Những khung sắt cao vút, vững chắc sẽ là nơi giành cho các nhà doanh nghiệp trưng những biển quảng cáo đồ sộ. Phía xa hơn, mấy khu chung cư cao tầng nơi đã hoàn thành, nơi còn dở dang. Một hòn non bộ lớn đã tạo ra một nét sơn thủy hữu tình ngay trên đất biên giới. Càng sơn thủy hữu tình hơn, với một hệ thống hồ nước kéo dài cả cây số đã bắt đầu chứa nước và những đàn cá, đàn ba ba đã đến sinh sống. Công ty Hải Long là đơn vị đầu tư vào đây, đã đặt một cái tên rất kêu cho khu dân cư mới này. Thành phố Mặt Trời. Đã có thể hình dung ra một cửa khẩu quốc tế sầm uất nay mai.

Tôi gặp một người quen. Đó là Phan Minh Thành. Trưởng ban quan lý khu kinh tế Một Bài. Nói thực lòng, ngày trước khi biết Phan Minh Thành tôi có một mặc cảm. Phan Minh Thành vốn là con trai của ông Phan Văn, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh. Ngày ấy, Phan Minh Thành là đại diện của Tây Ninh trong Công tu đường Bourbon - Tây Ninh, với cương vị Phó Giám đốc.

Cứ cái quan niệm "con ông cháu cha" mà khi gặp Phan Minh Thành tôi phải thăm dò. Nhưng khi thấy Phan Minh Thành làm việc sòng phẳng với mấy "anh Tây", thấy anh điều hành công việc trong một mối quan hệ phức tạp cả Tây cả ta, thì tôi quên mất cái mặc cảm của mình. Từ lúc đào cái móng đầu tiên, cho đến khi nhà máy chế biến đường lớn nhất Việt Nam với công suất 8.000 tấn mía cây một ngày vào hoạt động.

Phan Minh Thành là một nhân vật không thể thiếu của công ty này. Bây giờ anh ở cương vị mới, quản lý một khu kinh tế cửa khẩu lớn nhất của Tây Ninh. Anh khác xưa rất nhiều. Căm bệnh thấp khớp làm anh đi lại vất vả hơn. Những lớp nhăn trên mặt đã xuất hiện. Cái nắng biên giới đã nhuộm màu da anh. Trong phòng có máy lạnh mà anh không mở. Những ngọn gió từ ngoài cánh đồng rộng mênh mông thổi về lồng lộng, đủ xua đi cái nóng của xứ biên giới này.

Làm việc với tôi mà anh cứ phải cà nhắc, cà nhắc ra vào, mỗi khi cần phải nói gì về công trình khá đồ sộ mà anh đang quản lý. Hai mươi ngàn héc ta. Có khu buôn bán dịch vụ. Có hệ thống chợ thương mại biên giới. Có khu phố xá. Có khu chế xuất công nghiệp. Những cái hiện có và đang hình thành mới chiếm chừng một phần hai mươi tổng diện tích được phép xây dựng. Khách đến xin đầu tư ra vào liên tục. Tưởng như mọi chuyện suôn sẻ lắm. Tôi đã nói với Phan Minh Thành như vậy. Thành lắc đầu:

- Không phải thế đâu. Nhiều chuyện lắm ông ơi…

- Thì cũng như hồi xây dựng đường Bourbon - Tây Ninh là cùng chớ gì?

Đâu có thể giống như thế được. Kia nó có quy trình công nghiệp hoàn toàn, còn đây là vùng dân cư. Khác nhau một trời một vực. Cực nhất là đụng đến dân, ông ạ. Đúng là thời nào ý dân cũng là ý trời thiệt. Ông thấy đó. Hồi xưa đất này vài chỉ vàng một thước bề ngang là cùng chớ gì. Còn bây giời, tấc đất là tấc vàng đó ông.

Tôi kể ông nghe. Có một ông nông dân ngay dưới xã An Thạnh kia thôi Tự nhiên có người lên trả hai trăm năm chục triệu một mẫu. Được giá quá còn gì. Ban luôn. Ngày trước ngày sau, chính thằng cha mới mua lại báo trao tay cho người khác, hơn bốn trăm triệu. Giá đất tăng ở đây là tăng thiệt đó ông. Nay mai dây sẽ là một khu kinh tế mạnh ở phía Nam này mà. Nhưng chính giá đất tăng làm chúng tôi lao đao xiểng liểng. Từ ngày tiến hành giải tỏa đền bù đến giờ tăng đến ba bốn lần giá rồi. Cứ họp hội đồng đền bù xong, định giá đền bù rồi, giá lại tăng. Mình không theo thị trường dân người ta đâu có nghe. Phải tăng theo cho vừa, phải để dân người ta có thể chấp nhận được. Đền bù lớp này xong, phải tính toán bù luôn cho cả số người đền bù trước. Không thế dân người ta khiếu nại ai giải quyết cho nổi.

Hai chục ngàn héc ta trong khu kinh tế, giai đoạn một mới đền bù giải tỏa được hơn một trăm héc ta. Đền bù bao nhiêu tôi cũng không lo. Các nhà đầu tư sẵn sàng ứng tiền đền bù trước cho dự án, nay mai Nhà nước giải ngân trả sau. Bây giờ chỉ cần hô một tiếng là các nhà đầu tư họ ủng hộ liền. Nhưng cứ giá đất thế này bàn được với dân là cả một chuyện khó khăn.

Mới đây còn có tình trạng tranh thủ trồng cây lên đất để đòi hưởng tiền đền bù nữa kia. Họ lấy hạt tràm bông vàng, hạt bạch đàn trải vung xuống đất. Cây lên chừng hơn gang tay là họ đỏi trả tiền. Khung trồng rừng đối với bạch đàn chỉ chừng hai chục ngàn cây cho một héc ta. Họ sạ đại như vậy, có héc ta đền bù năm chục ngàn cây. Đền bù kiểu đó thì chỉ có mà chết Nhà nước thôi.

Phan Minh Thành lôi một đống giấy tờ ra chìa vào mặt tôi, buộc tôi phải đọc để hiểu cho rằng anh đang nói thật. Chẳng cần phải đọc, tôi đã hiểu được chuyện lình xình này rồi. Có ai ngờ được rằng một mảnh đất biên giới vốn một thời nghèo khó lại có lúc lên giá đến như thế.

Bỗng Phan Minh Thành kéo tôi ra ban công. Gió vẫn lộng thổi. Tiếng của anh bạt đi trong gió:

- Ông thử hình dung xem. Nay mai đường Xuyên Á này thông thẳng qua Phnômpênh, sang Băng Cốc thì chỗ này nó sẽ như thế nào. Nó sẽ không thưa thớt như hôm nay đâu.

- Cánh buôn lậu bây giờ đâu cả rồi, ông.

- Trên thế giới này nơi nào có biên giới mà không có buôn lậu. Còn chờ. Nhưng ông xem không còn xô bồ, xô bộn như ngày xưa nữa phải không. Mấy anh buôn mấy thứ hàng điện tử sài rồi, điện thoại di động. Ít đường Trung Quốc, Thái Lan… Mấy thứ đó nay mai cũng dẹp hết cho coi. Cửa khẩu này mở ra buôn bán, rồi hòa nhập AFTA, còn đâu phải buôn lậu mấy thứ hàng ế thức đó.

Ngày trước ông thấy không, cửa khẩu này buôn lậu thuốc lá nè, hang may sẵn nè, hàng quần áo cũ mà ta hay gọi là hàng Sida đó, rồi rượu ngoại… Bây giờ mấy khi thấy những thứ ấy được buôn lậu vào Việt Nam. Tây Ninh đang xin Chính phủ cho phép thực hiện quy chế như cửa khẩu Lao Bảo. Đến lúc đó, khỏi lo chuyện buôn lậu luôn. Có chăng chỉ còn cái anh hàng ma túy, thuốc hồng phiến… là phải chống.

Phan Minh Thành nói một cách say sưa. Hình như anh đã quên đi những khó khăn mà anh đã kể với tôi lúc mới gặp. Lúc này, trước mắt anh hình như chỉ còn là viễn cảnh của một cửa khẩu dịp dìu buôn bán, người qua kẻ lại nhộn nhịp. Tôi bỗng nhớ đến khuôn mặt trầm tư của ông Chủ tịch UBND huyện Bến Cầu khi giao đất cho dân ở bưng hoang Đìa Xù.

Nỗi lo của anh lúc đó chỉ là làm sao có đất cho dân sản xuất để thoát nghèo. Nay anh đã về hưu, hẳn anh vẫn hằng theo dõi những đổi thay đến chóng mặt trên quê hương mình, nhất là khu cửa khẩu Mộc Bài này. Anh cũng sẽ yên tâm hơn khi thấy dân Bến Cầu này không còn mấy người tham gia buôn lậu nữa mà đã yên tâm lao động và chờ đợi những ngày sắp tới có một Bến Cầu là trung tâm thương mại giao lưu với các nước trong vùng.

Tôi bỗng nhớ đến gương mặt căng thẳng của Đại úy Nguyễn Minh Đoàn ngày ấy. Bây giờ anh đã là Thượng tá, Chỉ huy phó BĐBP Tây Ninh. Cách đây ít lâu tôi có gặp anh ở Sở chỉ huy. Khi nhắc lại chuyện Mộc Bài ngày ấy, anh cười rất tươi:

- Cách đây mấy năm tôi có gặp Minh "đầu bò" ở bên Bình Phước. Hắn vẫn loanh quanh cái nghề đó. Nhưng bây giờ, hắn không bảo vệ hàng lậu nữa, mà lăn vào cái nghề buôn gỗ. Bây giờ thì hắn chẳng cần phải có cái giấy chứng nhận thương binh giả nữa. Gặp tôi hắn cười hềnh hệch: "Cả cái đồn Mộc Bài tôi ngán có một mình ông.

Này hồi đó tôi làm quá, ông có bắn tôi không?". Tôi cũng cười: "Sao hồi đó không thử xem". Hôm nay không đọc được ở Nguyễn Minh Đoàn sự căng thẳng như ngày xưa nữa. Anh vẫn về lại Mộc Bài. Nhà anh ở đó. Có vợ và có con. Anh bảo: Hóa ra mình chọn Mộc Bài làm đất sống lại may.

Bỗng nhận ra một điều, mười năm trước, ông Chủ tịch UBND huyện Bến Cầu lo, mà cái lo lúc đó chỉ đơn giản: Giúp dân thoát nghèo. Nguyễn Minh Đoàn hồi đó cũng nặng nỗi lo, nhưng chỉ lo có một điều: Làm cho Bến Cầu và đặc biệt là cửa khẩu Mộc Bài không còn buôn lậu nữa. Hôm nay gặp Phan Minh Thành, cũng thấy những nỗi lo lắng trên gương mặt vì có bao nhiêu cái khó để nhanh chóng đưa khu kinh tế Mộc Bài vào hoạt động, nhưng cái lo của Thành hôm nay đã có cơ sở vững chắc cho một Bến Cầu thành một vùng kinh tế mạnh, cho một cửa khẩu Mộc Bài có sức hấp dẫn đối với tất cả các ngành kinh tế khi muốn vươn xa hơn ra ngoài biên giới Việt Nam.

Tây Ninh 1993 - 2003

Nguyễn Đức Thiện

Các tin mới hơn:

Các tin đã đưa:

THÔNG TIN TÒA SOẠN
Địa chỉ: 40A Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Điện thoại : (04) 39364407
Fax: (04) 39364408
Tổng biên tập: Nguyễn Hòa Văn
  • Bông súng Trường Sơn
  • Đôi nạng
  • Thu xa
  • Bên thành Luy Lâu
  • Hát cùng anh
  • Diễn viên đóng thế
  • Buộc chỉ cổ tay
  • Vườn hoa tôi yêu
  • Bắc Cạn
  • Ngược Mê Kông lắng về Xiêng Khoảng
  • Nói với con
  • Mũi đan của Mẹ
  • Chúng con vẫn gặp Người
  • Những trang nhật ký
  • Viết ở Bích Động

Trăn trở vùng biên [10:38]

Liên hệ quảng cáo     Sơ đồ Website   RSS     Liên kết Web  
Bản quyền thuộc về BÁO BIÊN PHÒNG, giấy phép số 183/GP-BC cấp ngày 10-5-2007
Báo Biên phòng - Cơ quan của Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Biên phòng
Địa chỉ : 40A Hàng Bài - Hà Nội, điện thoại : (04) 39364407 Fax: (04) 39364408
e-mail: banthukybaobp@gmail.com
Powered by USS Corp |