Tiếng chim bi ai điểm từng hồi trầm đục. Chiếc quan tài độc mộc đặt giữa sân vẫn còn mở nắp. Người đàn bà xấu số khuôn mặt trắng bệch vẫn còn đọng nét nhăn nhúm của cơn đau sinh nở. Chiếc váy thổ cẩm dính loang lổ những vệt máy khô thâm đen. Từ trong ống váy lòng thòng một cái cuống rốn tái xanh nối với một hình hài xí xoắn, lớp sản dịch không được lau rửa ở da đứa bé đã khô bong từng mảng trắng như hồ quết. Xung quanh quan tài những ghè rượu bày la liệt… Phạm Xuân Bốn nhìn cảnh ấy mà rùng mình. Người chết hôm nay do kiệt sức sau đẻ, chứ chết do tả, thương hàn thì…Chả trách trong lịch sử xã Mo Ray đã bao lần mắc dịch, người chết như ngả rạ, các già làng cho là Yangf phạt phải bồng bế dắt díu nhau đi tìm đất mới. Không thể chấp nhận cái kiểu sinh hoạt này được! Phải bỏ, phải chấm dứt nếu như dân làng không muốn cheets nhiều hơn nữa. Nhưng đó là việc về sau. Còn bây giờ phải cứu được đứa bé đang thoi thóp trong quan tài kia. Hôm qua, anh đã qua nhà A Đét. Cổng nhà cắm cành lá cấm, tín hiệu không cho người lạ vào nhà. Tôn trọng phong tục ấy anh không vào thăm. Ai ngờ đâu lúc đó vợ A Đét đang chui dưới gầm sàn nhà vật vã. Phụ nữ Gia Lai xưa nay vẫn thế, khi đẻ hoặc là ra chòi rẫy, hoặc là xuống gầm sàn, đẻ xong ghé răng cắn rốn, lấy dây rừng buộc lại cho con, còn mẹ đã chuẩn bị một nắm lá glang, một loại thuốc lá truyền thống, nhai xong người mẹ hồi sức rất nhanh, có thể uống rượu cần ngay được. Nhưng vợ A Đét “cái số bị ma bắt”. Quằn quại một ngày đêm nhưng đứa bé không chịu chui ra. Người mẹ xấu số ấy lấy hết sức bình sinh rặn cái cuối cùng. Đứa bé vừa oa lên một tiếng thì người mẹ cũng vừa tắt thở. Khi tiếng chiêng đầu tiên cất lên báo hiệu có người chết, Bốn cùng tổ công tác đã đến ngay. ý định chia buồn của Bốn đã chuyển thành cơn bừng bừng phẫn nộ khi biết A Đét định chôn đứa bé theo mẹ. Sao lại thế được? Phong tục gì mà kỳ lạ thế? Đáp lại cơn nóng giận của Bốn, Đét chỉ ngồi im lặng. Sự im lặng lì lợm đến phát ghét. Mặc cho Bốn lúc to lúc nhỏ, lúc gay gắt quyết liệt, lúc mềm mỏng giãi bày, trước sau Đét chỉ nói một câu duy nhất: - Cho nó theo để nó còn bú mẹ! Phụ hoạ cho câu nói của Đét là bao nhiêu cái miệng run rẩy hùa theo: “Phải đấy, đúng đấy!”. Tình thế vô cùng nan giải, bởi Bốn không chỉ đối mặt với người chồng đang rền rĩ nỗi đau mất vợ, mà là cả cộng đồng trăm người như một. Đứa bé buổi sáng đang còn khóc o oe được mấy tiếng, giờ không còn hơi nữa. Nhưng bản năng sống đã giục giã nó hu hơ bàn tay tí xíu lần tìm vú mẹ. Bốn bảo y tá Toàn của đội pha chút nước đường đổ cho cháu. Nhưng ngay việc làm ấy cũng vấp phải những cái nhìn cấm cản. Các nhà chức trách của xã đã đến. Bốn vững tin bởi có thêm đồng minh. Nhưng cán bộ xã đều là con em trong làng nên chưa thoát ảnh hưởng của lệ làng. Ở nơi heo hút này, quyền uy tối thượng đối với dân làng không phải là ông bí thư hay ông chủ tịch, mà là ông già tám mươi tư tuổi tên là A Chớc đang ngậm tẩu ngồi kia. Bởi thế mà khi ông chủ tịch Kso Lýu tỏ ra cương quyết: “Mày chôn con như thế là vi phạm pháp luật đấy”, Đét vẫn không tỏ vẻ gì sợ sệt. Ban lãnh đạo xã cùng với Bốn ra rừng hội ý. Có ý kiến cho rằng: Đội công tác dùng áp lực vũ trang để giành lại đứa bé. Bốn cắn môi suy nghĩ, Anh hoàn toàn có thể làm như thế để cứu một con người. Nhưng rồi anh lắc đầu. Bốn mới về nhận công tác ở đây, chưa gây dựng được lòng tin của dân, làm thế bao nhiêu công lao gây dựng địa bàn sẽ tan như mây khói. Vậy thì chủ còn cách tấn công vào ông già sừng sững như một cây cổ thụ kia. Cái đầu ông ấy gật thì cả làng sẽ gật theo. Bốn bước đến bên ông già A Chớc, tự tin cầm cần rít một hơi rượu, thò tay bốc một miếng thịt trâu ăn ngon lành. Nét mặt ông già thoáng lên một tia vui vẻ, cái đầu bạc phơ gật gù nhè nhẹ. Bốn mạnh dạn hẳn lên. Anh nắm chặt tay ông già, hỏi lớn cốt để cả đám đông cùng nghe: - Già làng à. Già vẫn nói “ Con thú cũng không bỏ nhau”, phải không? - Ờ…ờ… - Con người còn thương nhau hơn con thú, phải không? - Ờ…ờ… - Vậy sao lại chôn con người đi? Ông già bị Bốn dồn vào thế bí tưởng đâu sẽ lúng túng, nhưng không, ông bập một hơi thuốc phà khói mịt mù, nói thong thả: - Rồi nó sẽ chết! - Không, nó không chết! - Ai nuôi được nó?- Ông già quắc mắt rút phắt cái tẩu trong miệng ra hỏi bất ngờ. Và chính Bốn lại là người lúng túng. Ai nuôi được nó bây giờ? Giữa rừng xanh núi thẳm này đào đâu ra sữa? Đứa bé yếu lắm rồi, hơi thở mỏng tang như khói hương. Nhưng không hiểu sao vào lúc ấy Bốn lại có thể tự tin gật đầu chắc nịch: - Mình nuôi được! Ông già nheo nheo mắt thăm dò: - Có chắc không? - Chắc! - Nếu có chết? - Mình đền! - Đền gì? - Đền …đền gì cũng được! - Được, nếu nó chết mày phải đền 10 con trâu. Mày phải làm ma cho nó 2 con trâu nữa…Phải… - Tai Bốn ù đi, mắt hoa lên, nhưng anh vẫn liên tục gật đầu… - Phải làm giấy! – Già làng yêu cầu. Đến bây giờ Bốn vẫn còn nhớ như in cái cảm giác khi cầm bút ký roạt vào biên bản do xã Mo Ray lập để tự tay anh bế đứa bé đã lạnh toát mùi tử khí ra khỏi chiếc quan tài, cái cảm giác đến gai người khi nghe tiếng kéo của y tá Toàn cắt đứt cuống rốn lằng ngoằng nối hai cõi tử – sinh. Bế đứa bé trên tay mà mắt anh nhoè đi, toàn thân bải hoải như vừa qua một chặng đường đua việt dã. Lán ở của “Đội công tác địa bàn” chiều ấy hối hả, tíu tít như một bệnh viện, người đun nước ấm lau cho bé, người nấu cháo, người nghiền bột, người chuẩn bị tã lót…Sẩm tối thì có một người áo quần ướt đẫm mồ hôi chạy hớt hải về lán. Đó là Đồn phó Chính trị đồn biên phòng Mo Ray Hoàng Văn Hà. Anh nhận được tin là bổ xuống ngay, nhưng đoạn đường từ đồn xuống xã vừa đi vừa chạy cũng mất nửa ngày. Anh đưa mắt nhìn đứa bé mắt nhắm nghiền và chợt hiểu ra cơ sự. Một cái lệnh được ban ra: - Điện về Bộ chỉ huy, cho ngay xe đưa cháu bé về thị xã Kon Tum cấp cứu! Cả chục cái miệng của những người lính đồng thanh giãy nảy: - Ứ, để bọn em nuôi! Người chi huy nhìn hết thảy mọi người rồi nạt lớn: - Tụi bay nuôi sao được mà nuôi! Nạt thế nhưng khi nhìn vẻ mặt ngơ ngác của những người lính trẻ, anh lại lén quay đi giấu nước mắt. Họ còn trẻ quá, mới mười tám, đôi mươi, thừa tình thương nhưng lại thiếu kinh nghiệm và những điều kiện cần thiết để nuôi một đứa bé đã cạn kiệt sức lực. - Tạch tạch tạch tè… tít tít tít tít… Bức điện mang tín hiệu cấp cứu phát khẩn thiết vào không trung, để rồi cả đêm hôm ấy lán của đội chong đèn thâu đêm chờ đợi. Những cặp mắt lo lắng bồn chồn nhìn nhau. Không nói ra nhưng ai cũng rùng mình lo sợ khi nhớ lại chỉ vài tháng trước đây cũng có một bức điện khẩn như thế này được phát đi: “Binh nhất Nguyễn Văn Tám, đội viên của Đội công tác địa bàn sốt rét ác tính, đã xuất huyết cầu tố. Đề nghị cho xe vào chuyển ra”. Một chiếc xe “chiến” nhất điều đi Mo Ray nhưng gặp mưa đã phải dừng ngoài Dốc Đỏ. Bốn người phải dùng võng cáng Tám ra, nhưng giữa rừng thì Tám chết. Chàng trai hai mươi tuổi quê Phù Cát, Bình Định đã hoá tên thành tên một con dốc-dốc Ông Tám, để từ đó bất cứ ai đi qua đây cũng dừng lại thắp cho anh một nén nhang và nhặt một hòn đá đắp lên mộ tượng trưng… May mắn sao, lần này thì xe vào được. Bốn ôm cái sinh linh yếu ớt nhảy ngay lên xe và thầm cầu trời đừng đổ xuống một cơn mưa bất chợt như thường thấy ở vùng này. Chuyến về xuôi trót lọt. Ở nhà, Bộ chỉ huy đã liên hệ được với bà Giám đốc Sở Thương binh- Xã hội Y Mửi, nên Bốn và đứa bé được đón nhận ngay tại Trung tâm Bảo trợ Xã hội tỉnh Kon Tum. Một ca cấp cứu khẩn trương được tiến hành. Cháu bé đã qua được cơn nguy kịch. Khi ký vào biên bản giao nhận, Bốn được bà Giám đốc Trung tâm tên Hạnh nhìn bằng cái nhìn cảm phục và đề nghị anh đặt cho bé một cái tên. Y Thanh! Một cái tên loé lên trong đầu Bốn. Anh cầm tờ biên bản về giao cho A Đét, trong lòng cảm thấy buồn ghê gớm. Cứ tưởng đây là lần đầu tiên, và cũng là lần cuối cùng trong đời Bốn gặp phải cảnh huống này. Nhưng chỉ 6 tháng sau anh lại phải đối diện với một thực tế phũ phàng tương tự. Lần này là cả hai vợ chồng Y Chát và A Oát làng Kênh chết sau một trận dịch. Đứa bé đã hai tháng tuổi, gia đình chuẩn bị chôn theo bố mẹ. Bốn đã giằng giật lại, bồng về Trung tâm Bảo trợ Xã hội và Bốn đặt tên cho cháu là Y Đức… Sau sự việc xảy ra với hai đứa bé thương tâm kia, báo chí đã đưa tin viết bài khiến dư luận cả nước xôn xao với nhiều thái độ trái ngược nhau. Hàng trăm câu hỏi được đặt ra đòi hỏi phải được trả lời: Việc chôn con theo mẹ, đó là cái vỏ hiện tượng, còn cái lõi bản chất của nó là gì? Chưa có một diễn đàn chính thức nào để hội thảo tìm căn nguyên, nhưng những phát ngôn thì rất khác nhau. Có người khẳng định: “Đồng bào ở Mo Ray quan niệm về việc chôn theo mẹ đứa bé còn đang bú là…nhân đạo!”. Lại có người cho rằng: “Đây là một luật tục!”. Ý kiến này bị phản bác tức thì, bởi khái niệm “luật tục” dùng để chỉ một thứ luật làng bắt buộc mọi người trong làng phải tuân theo. Thế nhưng đã có trường hợp mẹ chết, gia đình vẫn giữ đứa trẻ lại nuôi cơ mà? Những quan điểm hữu thần, vô thần; duy tâm duy vật… cứ va đập nhau chan chát mà rốt cuộc chẳng đi đến đâu. Thế còn ý kiến của những người trong cuộc, tức là những người đang trực tiếp phải đối mặt với hủ tục này? Đó là những cán bộ chiến sĩ đồn biên phòng Mo Ray và những cán bộ xã. Mo Ray là căn cứ cách mạng vững chắc suốt hai cuộc kháng chiến. Đồng bào nơi đây một lòng một dạ theo Đảng, theo Bác Hồ. Hàng mấy chục người con của xã đã hy sinh. Xã được phong Anh hùng LLVT ngay từ những đợt đầu sau giải phóng. Nhưng niềm tự hào về truyền thống cách mạng lớn lao bao nhiêu thì nỗi buồn về thảm cảnh đói nghèo lớn bấy nhiêu. Những người lính biên phòng và những người lãnh đạo xã Mo Ray mang trong lòng một tâm tư trĩu nặng. Họ đã chụm đầu vào với nhau bằng tâm thế của những người lính và đưa ra một nhận định ngắn gọn nhưng lại vô cùng biện chứng: “Hủ tục chôn con theo mẹ chỉ là sự bất lực trước hoàn cảnh của đồng bào mà thôi”. Phải nói ngay rằng, hủ tục chôn con theo mẹ đã có từ ngàn đời nay rồi. Trong những câu Howrir (kể khan) của già làng đã có nhắc đến.Và mới đây nhất, vợ hai của A BLẽ làng Tang tên là Y Bim chết, đứa bé cũng bị chôn theo trong khi vẫn còn đang khóc ngằn ngặt vì đói sữa! Trong điều kiện giữa rừng, không sữa, không thuốc men, đứa trẻ làm sao sống nổi? Tất cả những đứa trẻ gia đình giữ lại nuôi đều đã chết sau đó ít ngày. Người Gia Rai lại có tục chôn chung những người thân trong một quan tài. Người mẹ mới chôn được dăm bữa nửa tháng, thi thể đang thối rữa, trương phình, thế mà phải cậy nắp “boong” lên, lấy chân dẫm cho ẹp cái xác xuống để đặt đứa bé chết sau vào. Lại nữa, mỗi đám ma gia đình phải thịt ít nhất một con trâu để mời làng. Trong thời gian ngắn phải làm hai đám ma (nếu giữ đứa trẻ lại để cho chết sau), mất hai con trâu, đó quả là một gánh nặng quá sức đối với một gia đình quanh năm túng bấn. Đây chính là nguyên nhân làm nảy sinh tâm lý “Đằng nào nó cũng chết, chôn nó theo mẹ luôn cho đỡ phiền hà tốn kém!”. Dù thế nào đi nữa thì hủ tục này cũng không thể nào chấp nhận được, phải xoá bỏ. Nhưng bằng cách nào? Tất nhiên khôn thể bằng cách đi đến từng nhà để khuyên giải, phân tích điều hơn lẽ thiệt. Cũng không thể để cho sự việc xảy ra rồi lại đến đấu tranh giành lại đứa bé để bế về Trung tâm Bảo trợ xã hội. Phải giải quyết từ căn bản, hay nói đúng như Đông y là “Chữa bệnh từ gốc”. Nghĩa là không để người mẹ nào phải chết trong khi sinh nở, là đồng bào phải được sống no đủ, ốm đau phải được đến trạm xá, không cầu cúng thần linh… Trên bản đồ địa giới hành chính Việt Nam chưa có xã nào lại rộng như xã Mo Ray. Xã biên giới giáp Campuchia thuộc huyện Sa Thầy này rộng đúng 1.582km2, bằng diện tích của cả tỉnh Nam Định! Trên một vùng rừng núi mênh mông bạt ngàn ấy chỉ có hơn một ngàn dân cư, gồm 5 làng người Gia Rai và một làng người Rơ Măm. Người Gia Rai dẫu sao vẫn còn đông đúc và phân bố khắp các tỉnh Tây Nguyên. Còn người Rơ Măm, dân tộc thuộc ngữ hệ Môn - Khơme đầu thế kỷ XX có những 12 làng. Gần một thế kỷ chiến tranh, bệnh dịch, thú dữ…họ còn lại duy nhất một làng với vẻn vẹn 120 người, trở thành dân tộc ít người nhất Việt Nam, có nguy cơ tuyệt chủng. Cả 6 làng của xã Mo Ray thực chất chỉ là những ngôi làng hoang, đồng bào chỉ về ở vào những ngày lễ hội, hoặc lúc ốm đau, sinh nở, còn quanh năm họ như một bầy kiến lầm lụi kiếm ăn khắp rừng sâu bằng đốt rừng làm rẫy.Và hệ quả của nó thì như những gì ta đã thấy. Nếu như trong chiến tranh, Mo Ray là vùng hiểm trở ngăn bước quân thù, thì sau giải phóng đây là địa bàn vô cùng khó khăn cho những chủ trương chính sách xây dựng kinh tế xã hội. Để lên được Mo Ray chỉ có duy nhất một con đường trập trùng qua Dốc Đỏ, mệnh danh là Cổng Trời chỉ mở vào sáu tháng mùa khô. Vị cựu Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum Sô Lây Tăng trong một chuyến lên Mo Ray đã hút chết bởi xe sa xuống vực. Nghị quyết 01-TƯ, tức là cái nghị quyết đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Kon Tum tính từ ngày tách đôi tỉnh Gia Lai - Kon Tum năm 1991 là nghị quyết chuyên đề xoá đói giảm nghèo. Theo tinh thần của Nghị quyết này, mỗi địa bàn vùng sâu vùng xa sẽ được giao cho một tổ chức, một đơn vị lực lượng vũ trang đảm nhận. Và xã Mo Ray được giao cho đồn biên phòng Mo Ray. Một “Đội công tác địa bàn” được thành lập do Thiếu uý Phạm Xuân Bốn chỉ huy, đặt dưới sự lãnh đạo của đồn. Đồn phó Chính trị, Đại uý Hoàng Văn Hà được bầu vào HĐND xã Mo Ray để theo dõi sát sao địa bàn và kịp thời chỉ đạo Đội công tác. Hai trường hợp đau lòng xảy ra với hai cháu bé thôi thúc những người lính phải hành động ngay, không chần chừ, chậm trễ. Chưa bao giờ cái chủ trương “định canh định cư, tách hộ lập vườn” lại trở nên nóng bỏng và bức xúc như ở đây. Và cũng vào lúc này, cái khẩu hiệu “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” lại vang lên hối thúc. - Anh Rơ Ma Lá ạ-Bốn chân tình nói với đồng chí Bí thư Đảng uỷ xã Mo Ray-bắt đầu từ anh đấy! - Nghe Bốn nói, người lính già đãn kinh qua trận mạc những tháng năm đánh Mỹ buông một câu: - Được! Ngay sau đó, người con của làng Le, Bí thư Đảng ủy xã Mo Ray đã tự tay phá bỏ ngôi nhà dài dằng dặc với hơn hai trăm chiếc cột. Cái đầu tàu đã chuyển. Lần lượt đến Chủ tịch xã, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Bí thư Đoàn… rồi cả sáu ngôi làng nằm rải rác trên núi cao đã về định cư dọc theo con đường lớn quanh xã. Đêm đêm, Đội công tác mỗi người một súng, một đèn pin, một đèn bão…một đoàn lồ ô vót nhọn vác trên vai như những tráng sĩ ngày xưa vác giáo ra sa trường, đi xuống các làng vừa tuyên truyền, vừa dạy học. Mo Ray là địa bàn có mật độ hổ dày nhất Đông Dương. Chuyện hổ hàng ngày vọt qua hàng rào vào đồn bắt heo là chuyện thường tình, quen đến nỗi anh em bảo nhau kệ “cụ”, heo mình nhiều, ăn không hết, đếm không xuể thì để “cụ” ăn bớt cho… cân bằng sinh thái! Anh em trong đội bảo nhau phải học cách sống chung với hổ. Mình không làm gì “cụ” thì “cụ” hãy để yên cho mình. Thế mà trong đội vẫn bị thú dữ tấn công. Y tá Toàn của đội một đêm đi khám bệnh cho đồng bào đã bị một đàn voi “thổi” cho một trận chạy bán sống bán chết. Ngay chính đội trưởng Bốn cũng dính một lần. Đêm ấy, Bốn đi dạy về qua Bãi Thú. Gọi là Bãi Thú bởi đây là một khu rừng bằng phẳng nằm trong một khu bảo tồn thiên nhiên Chư Mo Ray, ở giữa có một giếng nước đóng quanh năm sôi lúc búc. Không biết nước và đất ở đây có chất khoáng gì mà thú rừng kéo về nhiều vô kể. Chúng uống nước nóng và gặm mòn cả một khoảng đất rộng. Đồng bào ở đây gọi là bãi thú của Yangf, không ai có thể bắn được dù là những tay săn cự phách. Bao giờ đi qua đây Bốn cũng dọi đèn để xem thú. Những mắt thú ăn đèn sáng lung linh khắp một khu rừng rộng quả là một cảnh tượng kỳ thú không phải ai cũng được chứng kiến. Bỗng “phì” một cái. Bốn giật bắn mình. Một đàn bò rừng to lừng lững như những con voi mà mãi sau này Bốn mới biết là loài bò xám nặng 2 tấn, có tên trong Sách Đỏ thế giới. Con bò đầu đàn giương cặp mắt đỏ rực như lửa chĩa cặp sừng nhọn hoắt nhằm Bốn lao tới với một tốc độ kinh hồn. Trong tình thế nguy nan ấy, Bốn tắt vội đèn, chạy vòng vèo quanh những thân cổ thụ và dây leo chằng chịt hướng ra bờ sông Ia Grai nhảy xuống chơi bài ù té... lặn! Lần thứ hai Bốn lại bị bò gây rắc rối, nhưng không phải bò rừng, mà là bò nhà. Ấy là khi tỉnh chủ trương đầu tư vốn cho chăn nuôi gia súc ở Mo Ray. Bốn mừng lắm bởi khí hậu vùng này rất hợp với đàn bò. Bốn mang cái mừng ấy đến từng nhà để động viên bà con. Nào ngờ, ai cũng lắc đầu nguây nguẩy. Sao vậy, lại có điều gì mắc mớ đây? Bốn âm thầm dò hỏi, và đã tìm ra nguyên nhân. Ngày xửa ngày xưa, tại làng Le của người Rơ Măn có hai chị em gái rất thương nhau. Họ đã bắt chồng là hai anh em trai để được ở cùng nhà. Một hôm người chị thấy số vải thổ cẩm của mình phơi ngoài sân bị mất, liên nghi cho cô em lấy. Người em thanh minh không được nên uất ức ăn lá độc tự tử. Người chị khóc lóc thảm thiết và mổ bò làm ma cho em. Khi mổ bò thì thấy trong bụng bò toàn thổ cẩm!... Từ đó người Rơ Măm coi con bò là nguyên nhân của ngờ oán thâm thù, không bao giờ họ nuôi để tránh hoạ về sau. Nghe được câu chuyện trên, Bốn vừa mừng vừa buồn. Sự giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc ở đây không theo chiều tích cực. Người Rơ Măm thù con bò đã đành, người Gia Rai hà cớ gì mà cũng bắt chước người Rơ Măm căm thù con vật hiền lành vô tội? Sự việc được Bốn lên đồn báo cáo. Ngay hôm sau Đồn phó Chính trị Hoàng Văn Hà và Bốn đã trở về mang theo một con bò tơ đang kỳ sung mãn, giao tận nhà một gia đình Rơ Măm, gia đình đồng chí Bí thư Đảng ủy Rơ Ma Lá. Cầu trời cho con bò sinh sôi nảy nở đừng xảy ra chuyện gì nhé. Chị bò tơ đã hiểu sứ mệnh thiêng liêng của mình, đẻ liền mấy lứa. Bán con bò đầu tiên, Rơ Ma Lá đã nói to trước đông đảo mọi người: “Tôi bán con bò này được 3 triệu đồng, bằng 2 tấn lúa, bằng cái rẫy trong một mùa…”. Cái kết quả sinh động và hấp dẫn ấy được phát triển theo cấp số nhân. Đàn bò ở Mo Ray đã lên tới…400 con! Bò nằm ngổn ngang trong vườn dưới những đêm trăng. Những chú nai rừng láu cá vẫn thường nhảy vào giữa đàn bò ngủ chung để tránh hổ vồ… Công việc của đội công tác địa bàn cứ âm thầm lặng lẽ và bền bỉ. Họ vật lộn với ruộng nước, với vườn cây, với nạn mù chữ. Họ tắm mình trong phong tục để đối đầu với những hủ tục, với bản năng hoang dại của những con người vừa xuống núi… Mười năm, khoảng thời gian tương đối dài với một đời người, nhưng là ngắn với một vùng đất. Cái họ mang lại không chỉ đơn thuần là diện tích mấy chục ha lúa nước, mấy trăm cái vườn, mấy nghìn gia súc, gia cầm, là xoá hết nạn mù chữ…Mà cái lớn nhất đạt được là họ đã chứng minh bằng thực tế hùng hồn rằng: Từ khi dân làng xuống núi định cư, hưởng những điều kiện sống mới thì không còn bà mẹ nào phải chết khi sinh nở, ốm đau bệnh tật đã bị đẩy lùi. Dân số xã Mo Ray từ 1240 năm 1991 đã tăng đến 1801 người. Riêng người Rơ Măm làng Le từ 120 người giờ đã là 322 người! Và tất nhiên cái hủ tục khác đã bị đời sống mới thủ tiêu. Mo Ray đã hết đói, đang xoá hết nghèo, khao khát làm giàu. “Mo Ray đã anh hùng trong chiến đấu, phải phấn đấu đạt anh hùng thời kỳ đổi mới!”. Một điều rất mừng là năm 2001, khi một số nơi ở Tây Nguyên đồng bào bị kẻ xấu xúi giục gây rối, thì ở Mo Ray tuyệt nhiên không có ai nghe theo. Các nhà truyền đạo trái phép có lên Mo Ray thì cũng ngậm ngùi cuốn gói. Những vụ xâm nhập qua biên giới dù lớn hay nhỏ đều bị đồng bào phát hiện báo cho đồn bắt gọn. Một dải biên cương điệp trùng của Tổ quốc được “phên dậu lòng dân” bảo vệ vững vàng. Một buổi sớm tinh mơ, sương núi còn bồng bềnh, cỏ cây còn ướt lướt thướt. Bốn vừa thức dậy đã thây một trai làng với bộ mặt rất chi là hệ trọng đến bảo: “Mày đến gặp già làng ngay!”. Chưa hiểu chuyện gì, Bốn vừa đi vừa run. Chuyện gì thế nhỉ? Mới tối qua hội làng mừng lúa mới, Bốn và anh em trong đội còn uống rượu với dân làng, già làng còn bốc tiết canh trâu đút cho anh ăn, vui vẻ lắm mà? Hay là có chiến sĩ nào trong đội sơ suất gì chăng? Khi anh vừa ngập ngừng bước lên cầu thang thì ông già A Chớc không thèm rào đón gì đã nói ngay: - Hôm qua tao mơ, tao thấy tao với mày là anh em! Lời nói gằn chắc như dao chém cột khiến Bốn vừa thở phào nhẹ nhõm, vừa mừng ứa nước mắt. Đồng bào ở đây vẫn có lệ tin vào giấc mơ như thế. Có cặp vợ chồng qua đêm đầu tiên ngủ với nhau đã mơ thấy người kia chết, thế là hôm sau dứt khoát chia tay, Bốn đã phải kiên trì lắm mới gắn họ tiếp tục với nhau được. Việc già làng A Chớc mơ thấy anh là anh em chứng tỏ họ đã coi anh như máu mủ ruột già. “Oéc” một phát, con heo to đã được đập. Nghi thức giản dị nhưng vô cùng thiêng liêng. Già làng A Chớc lấy máu heo bôi lên hai vú của Bốn rồi gọi tất cả hơn mười đứa con đến, nói to: - Từ nay Bốn là em ta. Các con là con của ta, cũng là con của Bốn. Các con đến bú và nhận ma “cha” đi! Hơn chục người con của A Chớc, người nhiều tuổi nhất đã hơn 60, người trẻ nhất cũng đã hơn 40 lần lượt ngậm miệng bú vào vòng ngực căng vồng của chàng sĩ quan biên phòng lúc đó vừa tròn 30 tuổi… Bây giờ tôi và Bốn (đã mang quân hàm đại uý) đang ngồi cùngo với người anh kết nghĩa của mình, ông già A Chớc hơn chín mươi tuổi tại ngôi nhà sàn sạch sẽ giữa làng Kênh, bên ghè rượu cao bằng một người ngồi. Theo phong tục, người uống “căn” đầu tiên là già làng A Chớc, tiếp đến Bốn. Bốn giới thiệu tôi là bạn, theo quan hệ bắc cầu thì tôi là… chú của hơn chục ông bà già và là ông của mấy chục đứa trẻ quây quanh! Dĩ nhiên tôi phải làm nghi thức nhận cháu. Không có cảnh bôi máu heo lên vú, thay vào đó, “các cháu” của tôi xin mỗi người được uống một “căn” với chú. Cái “ căn” rượu ở đây không giống những nơi khác. Nó là một cái sừng trâu có đục một lỗ ở đầu nhọn. Nước được đổ đầy sừng (khoảng gần một lít), và bằng miệng ghè. Khi nào bắt đầu thì người chủ xị sẽ buông ngón tay bịt lỗ sừng trâu. Nước từ “căn” chảy vót xuống ghè. Uống kiểu này không được phép ngân nga hay nghỉ giữa chừng. Không uống nhanh nước chảy tràn miệng ghè sẽ bị phạt. Tôi cố gắng cưa đôi được ba “căn” đã thấy đầu choáng váng, quay cuồng. Bốn ghé tai tôi nói nhỏ: - Anh uống thoải mái đi. Chưa matpay (say) thì chưa hỏi được chuyện gì đâu. Tôi đưa mắt ước lượng số người còn lại đang chờ nhận chú nhận ông và xác định, thôi thì say một bữa đã sao? Nhưng rồi tôi đã phát hoảng bở số người kéo đến nhà ông A Chớc càng ngày càng đông. Người gọi thầy Bốn, ông Bốn, anh Bốn … cứ bấn loạn cả lên. Những người trách móc, lẫy nhờn. Sao đi lâu thế? Chắc quên Mo Ray rồi hè?... Trong số đó có một ông già quắc thước, tóc bạc phơ, giọng nói oang oang từ ngoài sân: Bốn nhào ra giang tay ôm chặt lấy ông già: - Ô, già A BLé làng Tang. Già có khoẻ không? Có vui không? - Ô, vui lắm! Vừa rồi tao được thay mặt các già làng Mo Ray về Hà Nội dự Hội nghị già làng trưởng bản đấy. Tao được gặp Thủ tướng Phan Văn Khải đấy. Thủ tướng hỏi tao, người Mo Ray bây giờ cần gì cứ nói. Tao bảo, Mo Ray bây giờ đã có điện rồi; đồng bào hết đói rồi. Tao bảo, chỉ xin Thủ tướng một thứ thôi. Thủ tướng hỏi thứ gì cứ nói. Tao bảo, xin Thủ tướng cho đồn biên phòng Mo Ray một cái… trực thăng để đi tuần cho đỡ vất vả! Một trận cười nghiêng ngả. Không khí đầm ấm vui vẻ cứ kéo dài. Những ghè rượu cứ được cõng đến xếp thành một hàng dài trong nhà. Tiệc nhumtpay (uống rượu) mừng ngày Bốn về tưởng chừng bất tận. Vẫn những khuôn mặt “Cà răng căng tai” nhưng đã không còn nét u uẩn, tù đọng thường thấy ở những người quanh năm ở chốn rừng sâu. Cuộc sống mới đã làm bừng thức nơi họ những tia minh mẫn. Tuy thế, nhìn kỹ thì những khuôn mặt ấy vẫn ẩn chứa một niềm khắc khoải, day dứt ngóng đợi một điều gì đó. Và điều ấy chỉ được bộc lộ khi tất cả họ đã say, tôi và Bốn cũng đã say, khi mà những cái miệng không còn răng cứ nhè vào mặt chúng tôi mà hôn. Cách biểu lộ tình cảm vụng về nhưng rất đỗi chân thành ấy đã làm tôi cảm động. Họ khóc và kể lể về những ngày tăm tối, về những đứa trẻ bất hạnh, những bà mẹ bất hạnh, về Y Thanh, Y Đức…Không khí chùng xuống nặng nề. May sao lên Mo Ray lần này tôi có mang theo tờ báo Biên phòng có bài và ảnh về các cháu ở Trung tâm Bảo trợ Xã hội của nhà báo Thái Kim Nga. Khi tờ báo được đưa ra thì gần như cùng một lúc mấy chục con người nhào tới tranh nhau xem ảnh Y Đức chụp cùng bà Giám đốc Trung tâm tên Hạnh. Ông A Nul, ông nội của cháu A Đức úp tờ báo lên mặt khóc rưng rức như một đứa trẻ. Ông nói với đứa cháu trong ảnh như thể nó đang trước mắt: - Ta có tội. Ta có tội với cháu. Tại ta nghĩ không có sữa, cháu ăn bậy ăn bạ rồi cũng chết… Lời nói buột ra từ miệng ông già đã đánh tan nỗi ngờ vực trong tôi về nhận định của những người lính ở đây trước hủ tục chôn con theo mẹ. Bỗng ông ngẩng phắt lên, mặt ướt nhoè, rụt rè đề nghị: - Nhà nước có cho mình nhận cháu không?... Có cho mình thăm cháu không?...Bốn, mày nói đi nếu được để tao bán bò lấy tiền xuống thăm nó? - Cả mấy chục con người đều nhao nhao khẩn nài. Họ không chỉ muốn được gặp hai cháu Y Thanh, Y Đức, mà đòi gặp cả Đồn phó Chính trị Hoàng Văn Hà nữa. Tôi đã hỏi một câu mà hỏi xong mới thấy lỡ lời: “Đồng bào có muốn Y Đức, Y Thanh và bộ đội Hà về thăm làng không?”. Gay rồi! Việc Bộ chỉ huy Biên phòng Kon Tum gọi Phạm Xuân Bốn đang công tác tít tận đồn Đắc Rông (anh được điều sang đó năm 2001) về cho tôi gặp. Lại cho xe để tôi và Bốn về Mo Ray đã là quá nhiệt tình đối với tôi rồi. Bây giờ lại… Nhưng lỡ rồi, tôi đánh liều đề nghị Thiếu uý Đinh Văn Nhích, người kế nhiệm của Bốn. Tạch tạch tè…tít tít tít…những thanh âm dè dặt vọng vào không trung, ngại ngần ướm hỏi. Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ không giám chắc. Thứ nhất các cháu bây giờ thuộc quyền quản lý của Trung tâm Bảo trợ Xã hội. Thứ hai, đồng chí Hoàng Văn Hà hiện đã được điều sang làm Đồn phó Chính trị đồn biên phòng Xê Xan cách Mo Ray hơn một trăm kilômét. Bức điện gửi đi rồi, cả xã Mo Ray thấp thỏm. Nhà ở của Đội địa bàn luôn chật ních dân làng đến đợi chờ. Tôi đâm ra lo lắng, không biết sẽ ăn nói với đồng bào ra sao nếu như bức điện không được đáp ứng… Rất may, Chỉ huy, lãnh đạo Bộ Chỉ huy biên phòng tỉnh Kon Tum đã hiểu nỗi mong mỏi khát khao. Trưa ngày hôm sau nữa có tiếng xe vào. Mọi người ùa ra vây kín chiếc U oát trở Trung tá Hoàng Văn Hà cùng cháu Y Đức. Cháu Y Thanh đã được bà Giám đốc cho vào Thành phố Hồ Chí Minh chữa bệnh nên chưa về được. Một cơn chấn động nổi lên từ trung tâm xã. Bắt đầu là một tiếng hú. Tiếng hú lảnh lói mang tín hiệu vui sướng tột độ. Tiếng hú dội xuống làng Kênh, lan sang làng Rẽ vọng vào làng Rập, toả xuống làng KĐinh, làng Sộp, làng Tang. Tiếng hú này gọi tiếng hú kia nối tiếp nhau. Những bước chân rầm rập kéo về. Chao ôi là nước mắt! Vừa cám cảnh, vừa xót xa. Cháu bé gái người Gia Rai mười tuổi đã hằn vào tiềm thức suy nghĩ bị cộng đồng rũ bỏ giờ bàng hoàng sợ sệt trước một cảnh đón tiếp giữ dội bằng nước mắt! Nó oằn mình, nhoài người ra khỏi vòng tay xiết chặt đến ngẹt thở của ông nội, người đang ghì mặt vào nó khóc như mưa như gió, và thét lên một câu ai oán: “Mẹ Hanh ơi!” Nhưng dòng máu Gia Rai đang chảy rần rật trong người nó đã mách bảo cho nó biết rằng, nó đã trở về nơi nó sinh ra với những người ruột thịt, nên chỉ mấy tiếng sau Y Đức đã cùng anh trai mình là A Ngân ôm nhau khóc ròng giữa ngôi nhà sàn của ông A Nul. Suốt từ trưa đến chiều nhiều đoàn người rồng rắn lũ lượt đổ về nhà ông A Nul. Ngôi nhà sàn không chịu nổi sức nặng của hàng trăm con người rung lên răng rắc. Hoàng Văn Hà, Phạm Xuân Bốn và tôi đứng lùi ra một góc sân, nhường chỗ cho đoàn người không ngừng đổ đến. Một người đàn ông mặt mày khắc khổ ngượng ngùng đến bên chúng tôi gãi đầu: - Mình đã góp được hai triệu. Mình đến thăm Y Thanh được không? Anh là A Đét, người bố bất hạnh năm xưa đã khăng khăng cho đứa con bé bỏng của mình về với đất. Bốn nắm tay anh lắc mạnh: - Không cần nhiều tiền thế đâu. A Đét cong thương con thế là mừng rồi. Trời xẩm tối. Lúc này những tiếng khóc đã lặng đi nhường chỗ cho tiếng cười nói xôn xao. Y Đức đã mạnh dạn hơn xúm vào chơi cùng lũ trẻ Gia Rai, trên tay em cơ man nào là quà bánh do dân làng nhét vào. Một đống lửa to được nhóm lên giữa sân. Đoàn người đứng vòng trong vòng ngoài vây quanh những chiến sĩ biên phòng chuyện trò tíu tít. Tôi đứng lùi xa hẳn một góc để nhìn cảnh lửa hừng ấm giữa đêm rừng biên giới. Những người lính hôm nay đã hành động xuất phát từ tấm lòng con người đối với đồng loại. Dù sao việc làm của họ cách đây 10 năm cũng chỉ là giải pháp tình thế thôi. Cái họ làm được lớn hơn thế nhiều: Đó là mang lại cuộc sống sinh sôi bền vững trên mảnh đất nổi tiếng hoang vu, khắc nghiệt này.
Đỗ Tiến Thuỵ
Các tin mới hơn:
Các tin đã đưa:
|
Địa chỉ: 40A Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Điện thoại : (04) 39364407 Fax: (04) 39364408 |
| Tổng biên tập: Nguyễn Hòa Văn |
Trăn trở vùng biên [10:38]
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
|
|
|
||||||||||||||
|
Bản quyền thuộc về BÁO BIÊN PHÒNG, giấy phép số 183/GP-BC cấp ngày 10-5-2007 Báo Biên phòng - Cơ quan của Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Biên phòng Địa chỉ : 40A Hàng Bài - Hà Nội, điện thoại : (04) 39364407 Fax: (04) 39364408 e-mail: banthukybaobp@gmail.com |