Những tên dốc: "Cổng trời" Quản Bạ, "Cổng trời" Thèn Ván"...; những tên đèo: Mã Pì Lèng, Chín Khoanh...; những tên người: Chấu Sà Mìn, Sùng Dúng Lù...; những tên đất: Hoàng Su Phì, Đồng Văn, Mèo Vạc rồi Ma Lé, Lô Lố Chảy, Séo Lủng, Thèn Pả, Cẳng Tằng... Chỉ đọc thoi đã nhăn mày, méo miệng; chỉ nghe đã thấy trập trùng xa ngái; và khi đến nơi thì áo đẫm mồ hôi, nói không ra tiếng, chỉ có thở và thở. Nhưng có một nơi bí ẩn, huyền hoặc, hấp dẫn lay động trí tò mò của tôi từ thời thơ bé. Đấy là nhà "Vua Mèo" ở Sà Phìn, Đồng Văn. Bây giờ, đến tận nơi này, tôi mới biết: Sà Phìn không chỉ có nhà Vương! Nhà Vương ở xã Sà Phìn. Nhà Vương tức là nhà của cụ Vương Chính Đức thân sinh ra ông Vương Chí Sình. Cụ Vương Chính Đức vốn là một bang tá (sắc phong của triều Nguyễn), ông Vương Chí Sình vốn một thời là "Vua Mèo" tự xưng, sau là đại biểu Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhà Vương ở trên một quả đồi nhỏ, thấp giữa thung lũng Sà Phìn khá rộng và bằng phẳng. Từ đường ô tô chênh vênh trên các sườn nhí đá nhìn xuống thung lũng đã thấy một màu xanh thẫm của những cây sa mộc cao vút che lấp nhà Vương. Ngày mưa, xe ô tô không thể xuống thung lũng được mà phải dừng ở ngay đầu dốc rồi đi bộ. Đi qua chợ ở chân quả đồi thấp, rẽ tay phải ngược lên hơn một trăm thước là đến nhà Vương. Cách chợ vài chục thước là Trạm y tế và Đội công tác Biên phòng cắm ở Sà Phìn. Đội công tác cắm bản chỉ có bốn người. Ngô Hoài Nam, tổ trưởng và Bùi Văn Dũng, y sĩ đều là Thiếu úy; còn Chấu Sà Mìn và Phùng Văn Thùy cả hai là Binh nhất. Hôm chúng tôi đến, y sĩ Dũng ở dưới bản chưa về, còn Nam, Mìn và Thùy đang ở nhà. Thiếu úy Nam bảo: - Chả mấy khi bọn em có khách. Các anh phải ở lại ăn cơm rồi đi Mèo Vạc vẫn chưa tối đâu. Nói rồi Nam bảo Chấu Sà Mìn đi làm thịt ngan. Mấy anh em ở Đội công tác buộc chân ngan vào gốc cây sa mộc, nuôi ngăn bằng ngô răng ngựa giã nhỏ. Nam bảo không có chuồng nhốt nên phải buộc. Không buộc, nó ra phá rau thì xót lắm, vì ở Sà Phìn thiếu nước quanh năm, rau còn hiếm hơn cả ngan, gà. Nó cũng lớn, mọc đủ lông cánh rồi, thịt đi chứ buộc mãi cũng khổ nó, khổ mình. Lúc chờ cơm, Nam dẫn chúng tôi vào nhà Vương. Nhà nước đang bảo tồn nhà Vương thành địa điểm văn hóa, du lịch. Có nhiều người Mông ở trong nhà Vương. Tôi hỏi bà Thào Thị Say, sinh năm 1952 là cháu dâu "Vua Mèo": - Bà Say ơi! Sao còn nhiều người ở trong nhà Vương quá. Bà Thào Thị Say bảo: - Không nhiều đâu. Chỉ có bẩy hộ đang ở trong nhà Vương thôi. Toàn là cháu, chắt ông Vương Chí Sình mà. Chúng tôi chụp ảnh chung với bà Say, rồi bà đưa đi thăm nhà của "Vua Mèo". Nhà Vương xây theo lối chữ Vương rất độc đáo từ cuối thế kỷ 19 bởi các hiệp ước thợ người Hồi ở Vân Nam, Trung Quốc. Một bức đại tự "Biên chinh khả phong" của triều đình Huế ban tặng cho cụ Vương Chính Đức ngự ngay trên cổng vào. Nhà Vương có tường rào đá vây quanh, có nhiều lỗ hình vuông để nhìn ra ngoài quan sát. Tường rào đá cao hơn hai mét, có chỗ chân tường dày đến tám mương phân. Mái nhà cong lợp ngói âm dương. Cổng đá, tường rào đá, tường nhà trình đất. Biệt thự đá Sà Phìn của nhà Vương ngày xưa là nơi trung chuyển thuốc phiện từ Vân Nam, Trung Quốc, vùng Tây Bắc, Việt Nam và tuồng sang Lào, Miến Điện... Nhà Vương còn treo ảnh ông Vương Chính Đức mang trang phục quan triều Nguyễn, đội mũ cánh chuồn. Ngoài sân có bể đá đựng nước, đáy cạn khô và ở thềm hè đặt cối đá xay ngô cũ kỹ, nặng nề; nhìn thấy dẫ gợi cho ta nghĩ đến một thời lệ thuộc, u buồn và tăm tối của người Mông xưa. Nhìn bếp lạnh tanh, sập, tủ lim đứng im lìm hứng bụi thời gian, người hay xúc động dễ chạnh lòng xót xa với một thời hoàng kim đã qua của "Vua Mèo". Chúng tôi leo lên cả hai lô cốt cao nhà Vương, nhìn lần lượt qua sáu lỗ châu mai cố tìm một chút hơi hướng khí chất "Vua Mèo" xưa đã mất. Tường rào đá đã rêu xanh có chỗ cây mọc lòa xòa. Những cây sa mộc cao vút và vô vàn lá kim rì rào rì rào gió thổi. Biệt thự đá nhà Vương qua bao nắng mưa, bão gió, có chỗ đã bị thời gian mài mòn, hoang phế; nhưng về cơ bản vẫn giữ được hình xưa dáng cũ. Qua mấy cuộc chiến tranh, nhiều công trình kiến trúc quanh đó bị tan hoang, nhưng nhà Vương vẫn trơ trơ còn đó, không một mảnh bom, viên đạn nào rơi vào. Trung tá Nguyễn Ngọc Tuyên, Đồn trưởng Đồn BP Đồng Văn nói với tôi rằng: Nhà Vương nằm giữa thung lũng nhỏ, xung quanh là núi đá cao lừng lững trập trùng. Pháo đạn bay cầu vồng chứ không bay thẳng. Bắn bao nhiêu đạn cũng thế, hoặc mắc cả vào dãy núi bên này hoặc vọt sang tận vách núi bên kia. Bao nhiêu năm rồi, nhà Vương vẫn bình an vô sự với bom rơi đạn nổ. Tôi và nhà báo Đỗ Doãn Hoàng gặp ông Vương Xé Chứ, 69 tuổi ở cách tường rào đá nhà Vương khoảng năm chục thước. Ông Chứ trước là cán bộ lương thực huyện Đồng Văn. Cả đời ông chỉ quanh quẩn ở bản, ở huyện, duy nhất một lần đi xa nhất là dạo chưa tách tỉnh, xuống Tuyên Quang lấy sổ hưu. Ngoài gia đình ông Vương Xé Chứ ra còn sáu gia đình nữa ở gần nhà Vương. Những cây sa mộc nhà Vương trồng sát hồi nhà của bẩy hộ này. Ông Chứ bảo, ai chứ ông "Vua mèo" Vương Chí Sình thì ông biết. Thời nhỏ, ông đã vào trong nhà Vương. Ông thấy nhà Vương có người làm thuê, có khoảng một chục người có súng thay nhau gác cổng và đi tuần. Ông Vương Chí Sình đi đâu cũng có đoàn người theo, nhiều lúc ông ấy không cưỡi ngựa mà nằm võng cho hai thanh niên người Mông lực lưỡng khiêng... Ngày trước ở Đồng Văn có "Vua Mèo" họ Vương thì ở Mèo Vạc có "Vua Mèo" tự xưng của họ Giàng hay còn gọi là họ Dương - Dương Trung Nhân. Họ Giàng ở Mèo Vạc cũng có biệt thự đá xây trên núi. Người ta nói, biệt thự đá của Giàng ở Mèo Vạc còn to lớn, đẹp hơn cả biệt thự nhà Vương ở Đồng Văn. Nhưng bây giờ đổ nát, hoang phế hầu như mất dấu tích rồi. Họ Giàng thanh thế to lắm chẳng kém gì họ Vương. Hai bên xưng hùng xưng bá chẳng bên nào chịu bên nào, nhiều lần chạm súng đổ máu. Nhưng thế lực họ Giàng kém dần, sau thì chạy ra nước ngoài. Theo nhà văn Xuân Ba thì: "Vua Mèo" Dương Trung Nhân chết tháng 8-1994, thọ 82 tuổi ở tiểu bang Minnesota, nước Mỹ. Về sau ông Dương Đạo con thứ hai của "Vua Mèo" Dương Trung Nhân có viết một lá thư cho ông Vương Quỳnh Sơn hậu duệ "Vua Mèo" Vương Chí Sình rằng: "Kính thưa anh!... Em và mọi người trong gia đình rất sung sướng nghe theo lời anh là chúng ta nên thương yêu nhau. Cái chuyện xảy ra giữa hai gia đình họ Vương và họ Dương cách đây hơn năm mươi năm dù sao cũng là một chuyện đáng buồn. Trước khi mất, cha em cũng nói rằng hai họ Vương và Dương như một gia đình. Chúng ta nên xóa bỏ quá khứ để yêu thương nhau xây cuộc đời mới. Cha em cũng muốn về thăm quê hương một lần cuối trước khi nhắm mắt, nhưng già yếu quá rồi sợ đi về không được đến quê...". Vậy là như lá rụng về cội, đứa con lầm lạc (xưng vua một thời) của Đất Mẹ lúc sắp chết cũng biết lời nói phải, biết hướng về cội nguồn. Xã Sà Phìn có 2.264 nhân khẩu, tất cả đều là người Mông. Riêng họ Vương (còn gọi là họ Vàng) đã có tới gần 700 người. Lương thực chủ yếu của người Mông ở Sà Phìn là ngô. Ngô thường trồng một vụ vào mùa mưa; thu hoạch xong phơi cây cho khô nỏ rồi đánh đống lại ở nương để dành cho mùa khô thiếu cỏ làm thức ăn cho ngựa. Cái khổ nhất ở Sà Phìn, ở miền đá Đồng Văn là thiếu nước. Hôm chúng tôi đến, bể nước của đội công tác biên phòng khô cong; mặc dù anh em đã cất công lấy luồng chẻ đôi, đục mắt làm máng bắc hứng nước ở tất cả các mái tôn quanh đó. Thiếu nước nhất là dịp trước và sau tết nguyên đán, thiếu nước là phải mua. Thỉnh thoảng mới có xe chở nước từ Phó Bảng về bán 50.000đ một khối, nhưng có khi hiếm quá tranh nhau xếp hàng cũng không mua được. Thiếu úy Nam kể cho tôi nghe về sự thiếu nước và chuyện tắm giặt vô cùng cực nhọc của các anh. Tôi sẽ không kể lại ra đây, xin bạn đọc tưởng tượng dùm. Nhưng có một điều chúng tôi vô cùng ân hận là: Khi mới đến Sà Phìn mặt mũi, quần áo chúng tôi đầy đất đỏ bụi đường. Nam dẫn ra hồi nhà, chỗ mấy can nước để rửa. Chúng tôi lãng quên cái sự khô khát ở Sà Phìn nên đã dùng nước một cách vô tư, hào phóng như đã từng dùng nước máy Phần Lan cấp vào từng nhà ở Hà Nội. Cô nhà báo trẻ hiền thục cùng đi từ thủ đô lên còn tỉa tót bụi bẩn ở các kẽ móng tay, kẽ ngón chân. Chả mấy chốc, hai can nước loại hai mươi lít đã sạch bách mà cô nhà báo trẻ vâcn chưa kịp rửa mặt. Chỉ đến khi Thiếu úy Nam chạy sang bên Trạm y tế Sà Phìn vay một can nước về thì chúng tôi mới biết mình vô ý quá. Cô nhà báo trẻ đã khóc. Có thể cô là người mau nước mắt, có thể cô khóc vì sự vô ý, khóc vì ngượng, khóc vì thấy mình thừa ra, lạc lõng giữa đất trời Đồng Văn. Tôi chợt nghĩ, lúc ấy cô tiểu thư Hà Nội mới thực sự biết thương những người lính vùng biên. Ở Sà Phìn bản nào cũng khó khăn, nhưng xa nhất, khó đi nhất là bản Sán Sì Tùng. Sán Sì Tùng đã có điểm trường: Một lớp 1 và một lớp 2 do thầy giáo Vừ Mí Sò dạy. Giáo viên ở Sà Phìn hầu hết đã lập gia đình và có nhiều thầy giáo người Mông nên thuận lợi hơn nơi khác toàn giáo viên dưới xuôi lên dạy; khi nghỉ tết nghỉ hè giáo viên về hết, trường vắng tanh. Thiếu úy Nam kể, dạo còn ở Đội công tác cắm ở Phó Cáo, giáo viên về nghỉ tết mang gà, ngan, chó đến gửi. Ngày tết không nhận giữ hộ thì họ biết gửi vào đâu; chúng sẽ chết đói, hoặc bỏ vào rừng thành động vật hoang dã hết. Mà nhận thì nhiêu khê, phiền toái quá. Mấy ngày chỉ trông coi, cho chó, ngan, gà ăn là hết tết. Đêm ngủ thức dậy bật đèn, một mình chòi chọi với mấy chục con chó nằm ngổn ngang ở nền nhà, ngẩng cổ thè lưỡi, mắt thao láo nhìn lại; một mình với đêm rừng mênh mông vừa buồn cười, vừa muốn khóc. Công việc của Thiếu úy Nam và đồng đội là cắm bản, nắm tình hình an ninh trật tự, giúp dân xóa đói giảm nghèo. Cùng cắm bản với Tổ công tác biên phòng còn có cán bộ khuyến nông và y tế. Trạm y tế Sà Phìn có ba người, y sĩ Hoàng Xuân Hưng, người dân tộc Tày là Trạm trưởng. Người dân tộc thiểu số ở Sà Phìn dân trí còn thấp, coi trọng tập tục chứ ít màng đến khoa học, khoa học là cái gì đó trừu tượng, xa vời trong đời sống nhân dân. Người Sà Phìn: Ốm đau là cúng, đẻ không được cũng cúng, nhiều khi chết oan vì mê tín mà không biết chế vì nỗi gì. Sản phụ Ly Thị Mỷ, 37 tuổi người bản Lũng Hòa A đẻ con gái. Mụ vườn lấy cật nứa cắt rốn đứa bé xong mấy giờ đồng hồ mà cái nhau thai không chịu ra. Mỷ đau đớn kêu khóc từ đêm đến sáng, từ sáng đến trưa. Vậy là con ma nó hành, nó không cho cái nhau rhai ra. Người già ở bản bảo thế. Lo lắng, sợ hãi, người chồng quanh năm không đi khỏi làng bản vộiv ã đi mời thầy mo đến cúng. Thầy mo cúng một giờ, hai giờ, cái nhau thai vẫn không chịu ra. Thầy mo bắt Mỷ ngồi trên chõng tre, dạng hai chân đặt lên hai ông đồ rau. Thày mo cởi dây giầy, một đầu buộc vào núm nhau thai đang thập thò giữa háng gái đẻ, một đầu day buộc vào hòn sỏi có dán lá bùm. Viên sỏi đung đưa, đung đưa. Trên giường đứa bé đỏ hỏn khóc, bên bếp người mẹ đau quằn quại, ngoài sân thầy mo cúng. Cái nhau thai vẫn lầm lì không ra. Thầy mo tháo giầy. Một đầu dây buộc núm nhau thai vẫn giữ nguyên, một đầu dây buộc vào cái giầy có dán lá bùa thay viên sỏi trắng. Thày mo thả... giầy. Mỷ giật thót người, mắt trợn ngược, máu... ộc ra. Hai đùi non ấm mềm đang dạgn ra bỗng cứng đờ. Cũng may, có người báo, y sĩ Hưng và đồng nghiệp cùng mấy chiến sĩ biên phòng đến kịp. Hoàng Xuân Hưng bảo tôi: "Chuyên môn, chúng em gọi là rau cầm tù. Cầm máu, trợ tim, trợ sức; sau rồi phải lựa tay vào bóc rau từ buồng tử cung ra, anh ẹ. Mẹ tròn con vuông. Đến bây giờ em cũng không biết tại sao lúc ấy mình hành động nhanh, khéo léo và quyết đoán đến thế". Tôi nghe mà rụng rời chân tay. Cao nguyên đá lặng câm. Những cây sa mộc cũng lặng câm. Đâu là tối tăm. Đâu là hoảng sợ. Nhưng tôi cũng nhận ra: Sức sống người Mông ở Sà Phìn trên cao nguyên đá Đồng Văn mãnh liệt biết bao nhiêu. Vậy là: Ở Sà Phìn không chỉ có nhà Vương.
Sương Nguyệt Minh
Các tin mới hơn:
Các tin đã đưa:
|
Địa chỉ: 40A Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Điện thoại : (04) 39364407 Fax: (04) 39364408 |
| Tổng biên tập: Nguyễn Hòa Văn |
Trăn trở vùng biên [10:38]
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
|
|
|
||||||||||||||
|
Bản quyền thuộc về BÁO BIÊN PHÒNG, giấy phép số 183/GP-BC cấp ngày 10-5-2007 Báo Biên phòng - Cơ quan của Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Biên phòng Địa chỉ : 40A Hàng Bài - Hà Nội, điện thoại : (04) 39364407 Fax: (04) 39364408 e-mail: banthukybaobp@gmail.com |